Có Một Mùa Hè Chưa Từng Lãng Quên | Minh Và Sứa | Dưới hiên nhà mùa hạ
Thiên Nhiên Liều Thuốc Nhiệm Màu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:44' 20-03-2024
Dung lượng: 916.0 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:44' 20-03-2024
Dung lượng: 916.0 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
LỜI GIỚI THIỆU
BUCKY THÂN YÊU
CHÀNG AH-NULD DŨNG MÃNH
CHINH PHỤC ĐỈNH CAO
BĂNG TAN
NÂNG NIU SỰ SỐNG
LIỀU THUỐC TINH THẦN
HỒ NƯỚC NHIỆM MÀU
HY VỌNG CỦA ĐỜI TÔI
SÓI ĐỒNG CỎ
MỘT NỖI ĐAM MÊ
HÀNH TRÌNH MƠ ƯỚC
TẤM CHĂN TINH KHIẾT
NHỮNG TÂM HỒN ĐỒNG ĐIỆU
DÒNG TỘC LINH CẨU
SỐNG KIỂU ALASKA
ĐIỂM CÂU CÁ LỊCH SỬ
VƯỜN CỦA CHA
MỘT KHỞI ĐẦU MỚI
BÌNH YÊN TRONG NỖI SỢ HÃI
BÍ QUYẾT CÂU CÁ
THANH ÂM QUEN THUỘC
ĐI HÁI THỤC QUỲ
NỮ KỴ SĨ TÀI BA
MỤC LỤC
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
LỜI GIỚI THIỆU
ia đình tôi quản lý một trang trại chăn nuôi bò sữa tại vùng đồng bằng Minnesota – nơi có
G
những đồng cỏ bạt ngàn và những hốc đá thiên tạo. Trong ký ức tôi, hình ảnh đồng ruộng
luôn gắn liền với những bãi đất ẩm được bao quanh bằng những dãy hàng rào gỗ. Mỗi khi có
dịp, tôi lại lang thang ngao du khắp nơi, từ những hang đá ẩm ướt cho đến dãy hàng rào khô
cong dưới nắng, và vào cả trong rừng sâu để khám phá những điều thú vị của thiên nhiên. Và
tất nhiên là chuyến thám hiểm nào cũng rất tuyệt.
Một ngày vào năm tôi 11 tuổi, trong lúc đang làm việc trong chuồng bò của trang trại thì tôi
nhìn thấy trên bầu trời xuất hiện một dải chim trắng bay từ phương bắc đến và đáp xuống
cánh đồng vừa gặt ngay đằng sau nhà kho. Hình ảnh đàn chim nổi bật trên nền trời bao la
không một gợn mây trở thành hình ảnh kỳ diệu nhất mà tôi từng thấy. Nhưng chỉ một lúc sau,
một tiếng động vang lên khiến đàn chim giật mình, bay vút lên không trung và cuối cùng mất
hút trên tầng trời cao. Tôi đứng ngẩn ngơ, tự hỏi chúng là loài chim gì, đến từ đâu, đang bay đi
đâu và tại sao lại dừng lại ở đây vào lúc này.
Việc tình cờ phát hiện bầy chim trong khoảnh khắc ấy đã kích thích trí tò mò của tôi và thôi
thúc tôi say mê khám phá thiên nhiên. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được rằng mảnh đất tôi đang
sống chỉ là một phần nhỏ bé trong cả thế giới rộng lớn. Hình ảnh những bầy chim xuất hiện
theo mùa cho tôi hiểu rằng vạn vật sinh sống trên trái đất này đều có mối liên kết chặt chẽ với
nhau như những đường chỉ trên một bức tranh thêu khổng lồ. Tôi cũng biết rằng nhận thức của
mình đã thay đổi và nó đã tạo nên mối liên kết vô hình giữa tôi với thiên nhiên cho đến tận bây
giờ. Với tôi, “thiên nhiên” không còn đơn giản là một danh từ chung mà nó đã trở thành một
sinh thể đặc biệt.
Hầu hết những người yêu thiên nhiên đều trải qua sự biến đổi trong cảm xúc như tôi. Tôi gọi
đó là “sự trải nghiệm” - khoảnh khắc ta khám phá ra những vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên. Mọi
người sẽ đồng ý với tôi rằng những trải nghiệm đó đều có một điểm chung: chúng không có
trong tivi, trong trò chơi điện tử hay thậm chí trong lớp học; chúng chỉ diễn ra ở thế giới rộng
lớn ngoài kia, nơi tồn tại của chim muông, cây cỏ.
Mỗi chúng ta đều là một phần của thế giới. Vì thế, bên trong mỗi người luôn tồn tại yếu tố
thôi thúc ta tìm về với tự nhiên. Là một nhà hoạt động môi trường, tôi luôn tin rằng bản thân
mỗi người sẽ hoàn thiện hơn nếu ta biết dành thời gian để hòa mình vào thế giới thiên nhiên.
Đối với nhiều người, nhu cầu tận hưởng thiên nhiên đã trở thành nguyên nhân thôi thúc họ
tìm hiểu và bảo vệ nó. Các thành viên trong hội bảo vệ môi trường thường nói với tôi rằng
chính những trải nghiệm dân dã đã tạo nên sợi dây kết nối họ với tự nhiên. Những trải nghiệm
đó có thể là lớn lên ở một vùng quê nào đó; tham gia những buổi cắm trại với gia đình, bạn bè;
đạp xe; câu cá... Đó là những trải nghiệm đầy cảm xúc, và chính nó đã đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong việc khuyến khích con người biết trân trọng và gìn giữ thế giới tự nhiên.
Chúng tôi - những nhà bảo vệ môi trường, thường có xu hướng nghĩ đến những công việc
mang tầm vĩ mô và quan tâm đến những hệ sinh thái rộng lớn như vùng Bắc Cực hay vùng
Everglades. Tuy nhiên, có một mục tiêu khác cũng lớn lao không kém mà chúng ta cần chú ý,
đó chính là bảo vệ môi trường ngay chính ngôi nhà, khoảng sân vườn hay vùng đất nơi ta đang
sống.
Dù chỉ là những việc làm hết sức bình thường như dựng chuồng trại, nuôi chim, trồng hoa, đi
dạo trong vườn hay trong công viên nhưng đó lại là những việc làm đơn giản nhất góp phần
bảo vệ hành tinh chúng ta. Có thể bạn tham gia vào những hoạt động này chỉ với mục đích tìm
kiếm niềm vui nhưng khi đó bạn đã thật sự hòa mình vào thiên nhiên. Ngoài ra, bạn cũng có
thể tham gia vào những hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên của địa phương hoặc bảo vệ
thiên nhiên ngay tại sân vườn nhà mình bằng việc loại trừ cỏ dại, trồng cây, sử dụng các thiết
bị tiết kiệm năng lượng...
Khi làm những việc này, bạn không chỉ hưởng thụ những món quà của tự nhiên ban tặng mà
còn góp phần bảo vệ thiên nhiên theo cách đơn giản và hiệu quả nhất. Mỗi việc làm, dù nhỏ bé
nhất, cũng sẽ góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường sống xung quanh chúng ta.
Hầu như mỗi người đều muốn đóng góp cho hoạt động bảo vệ môi trường nếu họ biết mình
nên bắt đầu từ đâu. Câu trả lời thực ra rất đơn giản. Bạn chỉ cần bước ra ngoài, trải lòng mình
với thiên nhiên, thả lỏng cơ thể, thư giãn và sau đó hãy tìm hiểu thêm về nó. Hoặc bạn cũng có
thể làm một số việc đơn giản khác như đọc những cuốn sách viết về thiên nhiên, chẳng hạn
như cuốn sách này, tìm hiểu trang web của các tổ chức bảo vệ môi trường. Khi đó, bạn sẽ tìm
thấy những thông tin bổ ích và cần thiết cho mình. Và sau cùng, hãy hành động!
Đây là hành tinh của chúng ta, và chúng ta phải có nhiệm vụ bảo vệ nó.
- John Flicker
Giám đốc National Audubon Society
BUCKY THÂN YÊU
“Tôi không chỉ sống cho riêng bản thân mình bởi tôi là một phần của thế giới này.”
- Lord Byron
ột con nai của anh chị đã bị xe cán. – Giọng người đàn ông vang lên ở đầu dây bên kia
khiến tôi choàng tỉnh. Hai con mắt còn ngái ngủ của tôi mở to hết cỡ. Tôi nhìn đồng hồ,
mới 2 giờ 7 phút sáng.
– Tai nạn xảy ra ở đâu? – Tôi hỏi trong khi đưa tay đánh thức John, chồng tôi, dậy.
– Chị mau chóng đến đây đi. – Người đàn ông nói. – Đoạn đường mới rải nhựa, ngay giao lộ
trước khi rẽ vào đường cao tốc, phía bên phải.
Điện thoại ngắt. Tôi chưa kịp nhận ra ai vừa báo hung tin cho mình.
– Anh ơi, dậy mau lên! – Tôi lay mạnh John.
– Ừ… Ừ… – John lẩm bẩm. – Có chuyện gì vậy em?
– Một người nào đó vừa gọi đến báo tin là một trong những con nai nhà mình bị xe hơi cán. –
Tôi bước xuống giường, lòng đau thắt.
– Ai gọi? Ở đâu?
– Người gọi điện không xưng tên nên em không biết đó là ai. Anh ta cúp máy đột ngột quá.
Lúc này John đã tỉnh ngủ hẳn và bật dậy.
– Nó còn sống không em?
– Em cũng không biết nữa. – Tôi đáp. – Giá như người ta thông báo cụ thể hơn.
Chúng tôi cấp tốc thay quần áo. John nhanh chóng gom những vật dụng cần thiết: vài tấm
chăn mỏng, hộp dụng cụ y tế, đèn pin và khẩu súng trường phòng khi phải dùng đến. Tôi đánh
thức đứa con trai lớn của mình và nói cho nó biết chúng tôi sẽ đi đâu.
– Con hy vọng đó không phải là con Yoda nhà mình. – Johnny thì thào, giọng nó bộc lộ sự lo
lắng dù vẫn còn ngái ngủ.
– Mẹ cũng mong là vậy.
Năm ngoái chúng tôi đã phóng thích năm chú nai con, trong đó có Yoda. Yoda là chú nai sống
trong trại chúng tôi lâu nhất nên tình cảm chúng tôi dành cho nó cũng sâu đậm nhất. Nó là thủ
lĩnh của bầy thú mồ côi được chúng tôi nhận về nuôi trong trại. Tất nhiên là tôi không muốn
bất kỳ con nai nào của mình gặp tai nạn, Yoda lại càng không.
John và tôi ra khỏi nhà chỉ vài phút sau khi nhận được điện thoại. Đoạn đường đến hiện
M
trường tai nạn không xa lắm nhưng nó đủ để tôi nghĩ đến một chú nai khác của mình cũng bị
xe hơi cán nhiều năm trước.
Bucky là con nai đầu tiên được trại chúng tôi nhận nuôi. Chính vì thế, chúng tôi khá lúng túng
trong việc tiếp cận nó và cũng chẳng biết nên chuẩn bị những gì cho việc nuôi nấng nó về sau.
Chúng tôi dựng cho Bucky một cái chuồng và quây hàng rào quanh chỗ nó ở. Ngay khi nhìn
thấy Bucky, cả gia đình tôi đều có cảm tình với chú nai con có bộ lông nhung mềm mại điểm
những chấm lốm đốm vô cùng đáng yêu đó. Bucky đã lớn lên trong tình thương yêu và sự chăm
sóc chu đáo của cả gia đình tôi.
– Con nai của nhà chúng tôi đấy. – John thường tự hào khoe với mọi người.
– Là chú nai của con nữa. – Jesse, cậu con trai nhỏ của tôi cũng muốn khẳng định phần công
lao của mình.
Tuy mới nhận nuôi nai lần đầu nhưng chúng tôi biết rằng những chú nai con sẽ phát triển tốt
hơn khi được sống chung với bầy đàn. Vì thế, chúng tôi cố gắng tìm thêm những chú nai mồ côi
khác để Bucky có thêm bạn và sẽ thả tất cả cùng lúc khi chúng đã trưởng thành. Chúng tôi gọi
điện đến những trại bảo tồn động vật hoang dã và họ đã hứa sẽ gọi cho chúng tôi nếu tìm thấy
những chú nai con mồ côi. Thế nhưng chẳng có bất kỳ cuộc gọi nào sau đó. Về phía mình,
chúng tôi cũng không chắc liệu mình có đủ hào phóng để đem Bucky cho một trại nào đó nuôi
hay không. Cả nhà tôi đều nghĩ Bucky thuộc quyền sở hữu của mình rồi.
Một lần, chú nai Spike hơn một năm tuổi được nhốt chung chuồng với Bucky trong khoảng
một giờ đồng hồ. Spike đã được những nhà chức trách thuộc ban bảo vệ động vật tìm thấy
trong một kho thóc của người nào đó đang cố gắng tìm cách thuần hóa nó. Spike là một chú nai
thích sống độc lập, khá bướng bỉnh và đã đủ tuổi để tự chọn cách sống riêng của mình. Cậu ta
không muốn sinh hoạt chung với Bucky. Nhờ vậy Bucky không có cảm giác hụt hẫng khi người
bạn không mấy lịch lãm của mình nhảy vọt qua hàng rào cao gần 2 mét để kết bạn với tự do.
Sang tháng Chín, Bucky được thả về rừng nhưng cậu vẫn chọn ở lại trại của chúng tôi. Mỗi
ngày, nó chạy theo Johnny ra trạm xe buýt.
– Trời ơi, nhìn kìa. – Những đứa bạn của Johnny tỏ ra hết sức thích thú ngắm nhìn Bucky
đang lững thững đi cạnh Johnny. Chúng thường thốt lên: “Chà, tuyệt thật!” hay “Nhìn kìa! Nó
đẹp quá!”.
Cuối mùa đông, Bucky thường tha thẩn khám phá khắp nơi quanh vùng. Có lẽ cảm thấy mình
không thể hòa hợp với cuộc sống hoang dã cùng bầy đàn nên vào mỗi buổi chiều tối, Bucky
đều quay trở về trại để nằm ngủ cạnh dãy hàng rào sắt bao quanh cũi chó của gia đình tôi. Max,
con chó lớn thuộc giống Labrador, cũng thường rời khỏi cái chuồng ấm cúng của mình để đến
nằm cạnh Bucky, dù giữa chúng luôn có một dãy hàng rào. Max muốn truyền hơi ấm sang cho
Bucky và cả hai sẽ sưởi ấm cho nhau.
Vào một buổi chiều lộng gió, tôi báo với John là Bucky vẫn chưa về nhà.
– Lin này, bây giờ Bucky đã là một chú nai trưởng thành rồi. – John đáp. – Một ngày nào đó
chàng trai của chúng ta sẽ không về nhà nữa. Nó sẽ ở lại trong rừng và làm những gì nó thích.
– Em hiểu, nhưng em lo lắng lắm. – Tôi đáp. – Em linh cảm có điều chẳng lành đã xảy ra.
– Hãy chờ đến sáng mai, Lin ạ. Bucky sẽ quay về để chén những quả táo như mọi khi thôi. –
John trấn an tôi.
Nhưng sáng hôm sau Bucky vẫn không về, và cả hôm sau nữa cũng vậy. Chúng tôi đến những
nơi Bucky thường đến nhất để tìm nó. Hai vợ chồng tôi giải thích với bọn trẻ rằng có lẽ Bucky
đang đi cùng với một chú nai khác để bọn trẻ không thắc mắc về việc vắng mặt của Bucky. Đây
là lý do duy nhất mà bọn trẻ có thể hiểu và chấp nhận được.
– Nó sẽ không quay lại nữa. – Tôi nói với John bằng giọng bình thản, chấp nhận thực tế rằng
mình đã hoàn thành công việc nuôi dưỡng và phóng thích động vật hoang dã. Thế nhưng, việc
để Bucky quay lại cuộc sống tự do như những con vật khác thật sự là điều rất khó khăn với
chúng tôi. Khi ra đi, Bucky đã mang theo một phần của trái tim tôi. Và tôi vẫn phải tiếp tục giải
thích cho các con trai tôi về sự vắng mặt của nó.
Đến mùa săn bắn, John và tôi treo những tấm bảng to có hàng chữ màu vàng cam nổi bật từ
xa: “Cấm săn bắn!”. Đây là công việc chúng tôi vẫn làm hằng năm. Nhưng năm nay, chúng tôi
xin phép những người hàng xóm để được treo bảng cấm này trong vùng đất của họ với hy vọng
sẽ bảo vệ được Bucky nếu nó vẫn còn quanh quẩn trong vùng này.
Thế rồi một ngày, tại góc đường giáp với chỗ rẽ vào khu rừng, John và tôi nhìn thấy xác một
con thú con. Thân nó bị những bụi cây cao che khuất và nó nằm quay mặt về hướng nhà chúng
tôi. Nó đã bị xe hơi cán và ai đó đã mang nó khỏi đường cao tốc và đặt ở đây.
Là Bucky.
– Không phải như vậy chứ! – Tôi gào lên, khóc tức tưởi khi quỳ xuống bên cạnh xác con vật.
“Tại sao lại như vậy? Trời ơi! Tôi biết nói thế nào với các con tôi đây?”
Tôi không kìm được nước mắt trước sự thật đau đớn này và cảm thấy căm giận kẻ lái xe bất
cẩn nào đó đã hại chết Bucky của chúng tôi.
– Em sẽ không bao giờ nuôi một con nai nào nữa. – Tôi nghẹn ngào nói với John. – Làm sao
em có thể chịu đựng được nếu chuyện này lại xảy ra lần nữa. Ôi trời ơi! Nhìn những vết thương
của nó này.
John nhẹ nhàng lấy đất và lá cây khô xung quanh phủ lên xác của Bucky. Chúng tôi đứng lặng
một hồi lâu trước sự thật phũ phàng này và cầu mong sẽ không phải chịu thêm bất kỳ nỗi đau
nào như thế nữa.
Cơn gió lạnh thốc vào người kéo tôi trở về với thực tại khi hai vợ chồng nhảy xuống khỏi xe
tải. Tôi chạy vội đến chỗ chú nai con đang nằm bất động, lấy đèn pin soi vào thân thể nó.
– Tạ ơn trời. Đó không phải là Yoda.
Những tia nắng đầu tiên của ngày mới mang đến câu trả lời rõ ràng cho chúng tôi. John và tôi
mang xác con vật mà chúng tôi không biết tên vào sâu trong rừng, đặt nó vào một chỗ trũng
rồi khỏa đất lấp lại.
Khi cho xe rẽ vào đường về nhà, chúng tôi nhìn thấy Jesse đang xòe tay đưa cho chú nai yêu
quý của mình – Yoda – một quả táo. Ánh mắt Yoda nhìn Jesse đầy tin cậy và nhẹ nhàng đớp lấy
trái táo từ tay Jesse. Nó dụi dụi mặt vào đôi bàn tay mang găng ấm áp của Jesse. John và tôi
nhìn nhau mỉm cười. Chú nai xấu số nọ đã thổi bùng ngọn lửa tình yêu thương dành cho những
sinh vật của thế giới hoang dã trong chúng tôi và tiếp sức cho chúng tôi thực hiện tốt công việc
của mình.
Chúng tôi thể hiện lòng tiếc thương dành cho Bucky bằng cách tiếp tục chăm sóc và nuôi
dưỡng thêm nhiều chú nai mới mỗi khi xuân về. Tuy nhiên, dù rất nhiều chú nai đã lớn lên
trong trang trại của chúng tôi nhưng tôi vẫn không bao giờ quên những kỷ niệm gắn liền với
chú nai đầu tiên.
- Linda Mihatov
CHÀNG AH-NULD DŨNG MÃNH
ôi giữ chức vụ trưởng đoàn dịch vụ du lịch sinh thái tại Costa Rica đã mười năm nay.
T
Những chuyến đi này mang đến cho tôi cơ hội được nhìn thấy và tiếp xúc với nhiều loại thú
hoang dã như khỉ đột, báo đốm... Tuy vậy, có một chuyến đi khiến tôi nhớ mãi vì lần đó, cả
đoàn của tôi đã có dịp chứng kiến một sự kiện đặc biệt ấn tượng.
Các thành viên tham dự chuyến đi lần ấy đều là những người rất đam mê tìm hiểu thiên
nhiên hoang dã, trong đó có Jim và con trai ông, Andy - đang ở tuổi thiếu niên. Hai cha con Jim
không phải là khách hàng thường xuyên của hãng du lịch chúng tôi. Jim khoảng 50 tuổi và là
một cựu quân nhân. Có lẽ vì nhiều năm hoạt động trong quân đội nên tính tình của ông khá
lạnh lùng. Tôi nhận thấy mối quan hệ giữa ông và Andy không được hòa thuận cho lắm. Andy
tỏ ra rất nhiệt tình và hăng hái tham gia mọi hoạt động của đoàn trong khi cha cậu, với những
nguyên tắc cứng nhắc, luôn tìm cách kiểm soát gắt gao con trai. Một lần, tôi thấy Jim xử sự khá
thô bạo với Andy. Ông túm mạnh và lôi Andy đi khi cậu bé bị tụt lại phía sau vì mải tìm cách
bắt một con ếch có bộ da lấm chấm xanh và đỏ xen kẽ. Đó là một loài ếch độc. Có lẽ ông ấy
muốn bảo vệ cậu con trai mình theo cách của riêng ông. Dù trong đoàn không ai nói lời nào
nhưng sau đó, mọi người đều có vẻ giữ khoảng cách với Andy như sợ mình sẽ mang đến cho
cậu bé nhiều phiền toái.
Tôi thường trò chuyện với Andy trong những phút rảnh rỗi, với hy vọng cậu bé bớt cô đơn
hơn. Andy tâm sự với tôi rằng cậu rất mong được nhìn thấy một con báo đốm. Một tối nọ, sau
khi mọi người đã ngủ say, chúng tôi trốn ra khỏi trại để tìm những chú ếch đủ màu sắc và
nhiều sinh vật hoạt động về đêm khác. Khi đến địa phận khá vắng vẻ của vườn quốc gia
Corcovado, chúng tôi phát hiện ra một đàn khỉ gồm 20 con khỉ mặt trắng Capuchin. Cả hai hiếu
kỳ dừng lại quan sát chúng. Capuchin là loài khỉ khá hiền lành, dễ gần nhưng rất thông minh và
hành động giống con người. Tôi để ý thấy có một con khỉ đực đầu đàn luôn tỏ ra hung hãn khác
thường.
Trưa hôm sau, khi đang đi tham quan rừng quốc gia Corcovado thì đoàn chúng tôi được
chứng kiến một vài cuộc tranh chấp giữa con khi đầu đàn đó với một vài con khỉ đực khác
trong đàn. Bất kỳ con khỉ đực nào bén mảng đến gần các con khỉ cái thì nó lao vào, nhe răng đe
dọa và thỉnh thoảng còn dành tặng những kẻ gây rối kia một cú đấm trời giáng. Đoàn chúng tôi
đặt biệt danh cho chú khỉ này là Chàng Ah-nuld dũng mãnh - nhại theo vai diễn của nam diễn
viên gạo cội Arnold Schwarzenegger.
Đoàn chúng tôi theo dõi hoạt động của đàn khỉ này nhưng vẫn cố gắng giữ một khoảng cách
an toàn với chúng. Chúng đi khắp rừng để tìm kiếm thức ăn và đi cuối đàn là một con khỉ con
cao chưa đến 25 cm. Trước đó, con khỉ mẹ đã dạy cho nó cách leo cây và cách bám theo đàn để
không bị lạc. Khỉ mẹ còn huấn luyện cho con cách nhảy phốc từ mặt đất lên thân cây rồi đu
sang một nhánh cây khác ở xa hơn. Đây là bài học khó nhất mà chú khỉ con phải học. Nhiều lần,
tôi thấy chú khỉ con dừng lại, rên rỉ chừng không muốn học tiếp. Thế nhưng, chỉ một lúc sau, nó
đã tìm một cái cây khác để tập cho đến khi nhảy vọt lên được thân cây.
Trong chuyến đi tìm mồi hôm đó, chú khỉ con thấm mệt và bắt đầu tụt lại phía sau. Càng cách
xa khỉ mẹ, chú càng rên rỉ, than khóc to hơn. Khỉ mẹ dừng lại đợi chú đi lên chứ nhất quyết
không quay lại đón chú. Thế rồi, khi đến một thân cây quá to, chú khỉ con không thể ôm xuể
nên đã kêu khóc hết sức thảm thiết. Tiếng kêu gào của chú đã gây náo loạn cả đàn và khiến con
khỉ đực đầu đàn - chàng Ah-nuld dũng mãnh - chú ý đến. Nó nhe răng ra hăm dọa và rít lên giận
dữ rồi lao đến chỗ khỉ mẹ đang cõng khỉ con với ánh mắt hằn học. Trong khi đó, khỉ mẹ vì
muốn bảo vệ con nên cũng gầm gừ chuẩn bị tư thế sẵn sàng chiến đấu. Tất cả chúng tôi đều nín
thở chờ đợi, lo lắng không biết chàng Ahnuld này định làm gì.
Khi Ah-nuld đến cạnh chỗ khỉ mẹ và khỉ con, gương mặt đang cau có của nó bỗng nhiên giãn
ra và vẻ hung hăng biến mất. Nó nhìn thẳng vào gương mặt của khỉ con như thể đây là lần đầu
tiên nó nhìn thấy con mình. Thế rồi chàng Ah-nuld đưa tay sờ gương mặt đang khiếp đảm của
khỉ con và nhẹ nhàng đặt lên đó một nụ hôn. Chú khỉ con nín khóc ngay lập tức. Ah-nuld bế con
vào lòng, để đầu con tựa vào ngực mình và dùng răng khẽ chải bộ lông cho con.
Cả đoàn chúng tôi thở phào nhẹ nhõm và thật sự xúc động trước những gì vừa chứng kiến.
Lúc đó, tôi để ý thấy Jim - chàng Ah-nuld của đoàn chúng tôi - đang lặng lẽ khóc. Tôi im lặng
nhìn Jim vì không biết nên nói với ông điều gì.
Cả đoàn chúng tôi vui vẻ quay trở lại trại nghỉ. Sau bữa tối, tôi, Jim và một vài người khác
ngồi dưới mái hiên lắng nghe tiếng mưa đêm. Giai điệu của mưa lúc êm đềm, lúc réo rắt tựa
như một bản hòa tấu tuyệt diệu của tự nhiên.
Bầu không khí yên bình bỗng bị phá vỡ khi Andy bước ra khỏi mái hiên, Jim chộp mạnh lấy
cánh tay con trai. Andy cự lại bố. Tôi thót tim lo sợ cuộc xung đột giữa hai cha con sẽ diễn ra.
Những ánh mắt khác cũng đổ dồn về phía Jim và Andy.
Thế nhưng, trái với mọi dự đoán, Jim kéo Andy vào lòng và nói:
- Bố rất vui vì hai bố con ta cùng nhau tham gia chuyến đi này. Lúc nào bố cũng mong con
được trải nghiệm điều thú vị và bổ ích của cuộc sống, Andy ạ! Có lẽ là bố đã không thương yêu
con theo cách mà con mong đợi nhưng con hãy tin rằng bố luôn yêu con.
Andy ngạc nhiên đến mức cứ đứng yên trong vòng tay bố. Một thoáng bối rối, cậu ôm chặt
lấy bố và nói:
- Bố! Con cũng rất yêu bố.
- Josh Cohen
CHINH PHỤC ĐỈNH CAO
“Bất cứ ai chinh phục được đỉnh núi sẽ nhận được những món quà vô giá do sơn thần ban
tặng.”
- Sir Francis Younghusband
ăm 1989, tôi lên kế hoạch thực hiện một chuyến thám hiểm châu Phi và chinh phục đỉnh
Kilimanjaro(1) - đỉnh núi cao nhất của châu lục này. Nguyên nhân khiến tôi háo hức đến
với mái nhà của lục địa đen là vì tôi thực sự bị nền văn hóa độc đáo của xứ sở này cuốn hút – từ
cuộc sống con người cho đến thế giới động vật hoang dã.
Ý tưởng về chuyến thám hiểm châu Phi của tôi được nhen nhóm từ chuyến du lịch đến Nepal.
Trong suốt sáu tuần lưu lại đất nước này, bàn chân tôi đã in dấu trên những con đường mòn
hiếm người qua lại dẫn đến nơi sinh sống của các bộ lạc ít người dưới chân ngọn
Kangchenjunga(2) – đỉnh núi cao thứ ba trên thế giới. Tôi say mê vẻ đẹp hùng vĩ cùng những
vách đá cheo leo hiểm trở nơi đây. Tôi yêu cả những bản làng hẻo lánh, nơi mà mỗi khi đi
ngang qua, bạn sẽ được trẻ con trong làng chào đón bằng những bài hát tiếng địa phương. Bạn
cũng có thể bắt gặp nụ cười thân thiện tỏa sáng trên những gương mặt nhem nhuốc. Những
phong tục tập quán ở đây thu hút được sự chú ý của tôi bởi chúng rất khác biệt với nền văn
hóa Tây phương hiện đại mà tôi được tiếp xúc từ bé. Trước khi rời Nepal, tôi cảm thấy muốn
được khám phá thêm nhiều vùng đất khác, đến thăm nhiều thôn làng, được nghe nhiều ngôn
ngữ, và muốn được thấy những nụ cười hiền hậu của những nền văn hóa khác nhau. Tôi bỗng
nhận ra rằng việc khám phá những ngọn núi cao đã trở thành một trong những mục tiêu của
cuộc đời tôi.
Có thể nhiều người cho rằng tôi quá tham vọng nhưng tôi vẫn quyết tâm chinh phục sáu trên
bảy đỉnh núi cao nhất thế giới. Nhưng chính quyết tâm này sẽ giúp tôi có cơ hội được tận mắt
chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những vùng đất thuộc châu Phi, Alaska, New Zealand, Argentina và
Antarctica.
Chinh phục Kilimanjaro là cuộc hành trình nhiều gian truân chứ không đơn giản chỉ là một
chuyến leo núi ngắm cảnh đơn thuần. Ngọn núi này là sự lựa chọn đầu tiên trong danh sách
những địa danh tôi muốn đặt chân đến. Khi bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi, tôi nhớ đến bà của
mình – người có nhiều ảnh hưởng đến cuộc đời tôi. Bà cũng là một người rất thích đi du lịch
nhưng lại không có điều kiện để làm điều đó. Bà qua đời trong khi danh sách ước muốn của bà
vẫn chưa được thực hiện bao nhiêu. Tôi sẽ nỗ lực hết mình để không bước theo lối mòn ấy của
bà.
Thế nhưng, vào lúc tôi đang tràn trề hy vọng nhất thì một chuyện không may đã xảy đến. Hai
tuần trước kỳ nghỉ Giáng sinh năm 1989, các bác sĩ chẩn đoán tôi đã bị ung thư tuyến vú và
khối u đã lan sang cả hệ bạch cầu. Họ nói với tôi rằng tôi chỉ có thể sống trong vòng từ ba đến
năm năm nữa. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ, tôi từ một người đang rất yêu đời, bỗng biến thành
N
kẻ sống trong sợ hãi và thất vọng tột độ.
Sau khi trải qua nhiều cuộc xét nghiệm, tôi quyết định sẽ để các bác sĩ tiến hành điều trị lâm
sàng - phương pháp có thể giúp tôi kéo dài cuộc sống của mình thêm một thời gian nữa. Ba
tháng đầu tiên tôi chỉ đến bệnh viện theo định kỳ để truyền hóa chất. Bảy tuần tiếp theo tôi
được điều trị bằng tia phóng xạ. Hai tháng sau đó, tôi nhập viện để tập trung điều trị bằng hóa
chất và phẫu thuật cấy ghép tủy.
Vào tháng 3 năm 1990, tôi được chuyển đến bệnh viện Pacific Presbyterian. Suốt bảy tuần lễ,
tôi nằm trong một căn phòng vô trùng có diện tích rất nhỏ. Thức ăn được đưa vào cơ thể tôi
thông qua những ống dẫn, và bài tập vận động duy nhất của tôi là bước đến chiếc chậu cạnh
giường khi buồn nôn. Sức khỏe của tôi mỗi lúc một yếu dần. Nằm trên giường bệnh, tôi chỉ có
thể đưa mắt nhìn ra khu công viên bên ngoài thông qua ô cửa sổ nhỏ. Ước muốn duy nhất của
tôi khi ấy là được đi dạo trên những con đường mòn trong công viên đó mà thôi.
Tôi uống một viên thuốc an thần rồi thiếp đi. Trong khi mê man, tôi thấy mình đang đứng
trên đỉnh Kilimanjaro, McKinley và một số đỉnh núi khác mà tôi không biết tên. Nhưng cũng
trong giấc mơ đó, các cơ bắp tôi co rút lại, cơ thể không còn sức đề kháng của tôi nóng ran lên
vì sốt cao. Tôi có cảm giác như cánh cửa của thần chết đang mở rộng chào đón tôi. Tuy nhiên,
tôi vẫn không ngừng cầu nguyện và hy vọng một ngày nào đó mình sẽ được xuất viện và sống
một cuộc đời hữu ích.
Cuối cùng, điều kỳ diệu đã xảy ra. Tôi hết sốt và có thể tự do đi lại. Việc đầu tiên tôi muốn
làm là đi dạo khắp công viên. Việc đi qua bốn dãy nhà ngắn trong bệnh viện dường như đã rút
cạn chút sức cuối cùng trong người tôi. Thế nhưng tôi lại cảm thấy rất hãnh diện vì đến bây giờ
mình vẫn còn sống. Mỗi ngày qua đi, quãng đường tôi đi được lại dài hơn một chút. Sức khỏe
của tôi dần hồi phục nhưng tất nhiên, tôi vẫn phải chịu đựng sự hành hạ của những cơn đau.
Ngay khi cảm thấy khá hơn, tôi lại nghĩ đến ước mơ chưa được hoàn thành của mình - chuyến
du lịch châu Phi và chinh phục đỉnh Kilimanjaro.
Sau khi điều trị được một năm, tôi leo lên đỉnh Baldy – một ngọn núi tuyết nơi tôi đang sống.
Sau bốn giờ kiềm chế cơn đau, cuối cùng tôi cũng đặt chân lên đến đỉnh núi. Trong khoảnh
khắc đặc biệt đó, tôi quyết tâm sẽ phải đến châu Phi bằng mọi giá.
Một lần nữa, tôi lại lập kế hoạch cho hành trình dài của mình. Sau đó, tôi có thêm vài lần trở
lại đỉnh Baldy và tiêm chủng một danh sách các bệnh cần phòng tránh trước chuyến đi khám
phá châu Phi. Tôi bay đến Nairobi trong tâm trạng vừa hồi hộp, vừa lo lắng. Thật khó tin rằng
cuộc phiêu lưu mà tôi mong đợi bấy lâu nay sắp trở thành hiện thực.
Tôi khởi hành từ Serengeti Plains, mảnh đất khô cằn với rất nhiều sư tử, báo Phi châu và
những đàn voi rừng. Tâm trạng tôi trở nên phấn khích đặc biệt trước khung cảnh hoang sơ ở
đây. Trong ba ngày, đoàn của tôi gồm chín người, bắt đầu chuyến thám hiểm hứa hẹn biết bao
điều kỳ thú.
Đêm trước khi rời khỏi Tanzania để chuẩn bị chinh phục đỉnh Kilimanjaro, chúng tôi được
tham dự vũ hội của thổ dân Masai. Đêm đó, chúng tôi quây quần bên nhau và lắng nghe các
chiến binh của bộ lạc hát những lời tụng ca. Tốc độ và cường độ của những bước chân quanh
tôi mỗi lúc một tăng. Tôi hầu như không còn nhìn thấy rõ hình dáng người mà chỉ còn nghe
thấy âm thanh bài hát của họ. Những bước nhảy và giai điệu bài hát hòa hợp với nhau tạo nên
một sức quyến rũ đầy mê hoặc không sao lý giải được.
Tôi chăm chú quan sát cách họ thể hiện quyết tâm và tập trung sức lực vào từng động tác.
Tôi hiểu rằng bản thân tôi cũng phải làm như vậy nếu muốn chiến thắng bệnh tật và chinh
phục đỉnh Kilimanjaro. Cũng giống như các thổ dân Masai ở đây, tôi sẽ phải huy động tất cả nội
lực của mình để chống chọi với không khí lạnh và áp suất không khí thấp khi ở trên cao.
Sáng hôm sau, chúng tôi bắt đầu leo núi. Con đường đến với “đỉnh vinh quang” luôn chứa
đựng rất nhiều gian khổ. Trong bốn ngày đầu, chúng tôi đi theo những con đường quanh co
trong các cánh rừng nhiệt đới đầy rêu xanh và hoa dại. Thực phẩm lạ khiến cho hệ thống miễn
dịch vừa mới phục hồi phần nào của tôi gặp trục trặc và tôi bị tiêu chảy trong suốt hành trình.
Tuy vậy, theo mỗi bước chân, khoảng cách giữa chúng tôi với đỉnh núi càng được thu ngắn lại.
Mỗi khi đuối sức, tôi thường lẩm nhẩm câu: “Hakuna Matata, Hakuna Matata” mà theo tiếng
Swahili có nghĩa là: “Không sao đâu, đừng sờn lòng!”. Vào ngày thứ năm của cuộc hành trình,
chúng tôi bắt đầu tiến lên đỉnh. Vào khoảng thời gian này của hai năm trước, tôi đang nằm trên
giường bệnh, thoi thóp thở và hy vọng sống sót là rất mong manh. Vậy mà giờ đây, tôi đã khỏe
mạnh trở lại và còn thực hiện được ước mơ tưởng như đã dang dở của mình.
Khi đặt chân đến vành đai của miệng núi lửa ở độ cao 5.791 mét, tôi sung sướng đến mức
không giữ được bình tĩnh. Tôi nhảy cẫng lên, vung mạnh nắm đấm vào không khí, giống phong
cách trình diễn của các ca sĩ nhạc Rock mỗi khi kết thúc bài hát để chúc mừng thành công của
mình.
Đứng trên nóc nhà của châu Phi và được hít thở bầu không khí trong lành nơi đây, lần đầu
tiên tôi hiểu rằng những vết thương trên thân thể có thể được chữa lành nếu tinh thần con
người luôn khỏe mạnh. Trên đỉnh núi này, trong giây phút ấy, tôi cảm thấy mình là người may
mắn nhất thế giới. Tôi muốn chia sẻ với tất cả mọi người niềm hân hoan vô bờ của mình.
Sau hai năm rưỡi làm việc cật lực, tôi cùng với 17 bệnh nhân sống sót sau khi điều trị ung
thư vú leo lên đỉnh Aconcagua có độ cao 6.962 mét tại Argentina. Chúng tôi đặt tên cho chuyến
đi của mình là “Chinh phục đỉnh cao”. Hành trình của chúng tôi nhận được rất nhiều sự quan
tâm của giới truyền thông và mục đích của chúng tôi trong chuyến đi này là kêu gọi sự quan
tâm của cộng đồng với những bệnh nhân ung thư vú. Tôi là một trong ba người đầu tiên chinh
phục được đỉnh Aconcagua. Tuy nhiên, một người bạn đồng hành của tôi - chị Nancy Knoble đã nhận xét rằng: “Chúng ta chinh phục đỉnh cao này trước hết là để chiến thắng chính mình”.
Sau lần đó, tôi dành thời gian để đi du lịch vòng quanh thế giới và rất hãnh diện vì mình đã
đứng trên năm đỉnh núi cao nhất của năm châu lục. Chỉ cần điều kiện sức khỏe cho phép, tôi sẽ
tiếp tục thực hiện ước mơ chinh phục đỉnh cao của mình. Càng ngày bảng danh sách ước mơ
của tôi càng được thu ngắn lại. Tôi đánh dấu những điều mình đã đạt được và chắc chắn sẽ nỗ
lực hết mình để hoàn thành tất cả chúng.
- Laura Evans
BĂNG TAN
“Sự bất ổn của dòng nước không nằm ở bản thân nó mà do tâm trạng của con người.”
- Tanaka Shozo
ôi thức giấc khi trời vừa tảng sáng và bắt đầu liệt kê những việc cần làm để sửa sang lại
ngôi nhà tồi tàn mà mình vừa dọn đến. Nỗi chán chường trào dâng trong lòng khiến tôi
chẳng thèm quan tâm đến điều gì, ngay cả việc con chó Teco làm rơi sợi dây xích lên chân
mình. Tôi đã đánh mất quá nhiều thứ: ngôi nhà cũ thân yêu và cuộc hôn nhân của mình.
Tôi mở cửa sổ ra chào đón một ngày tháng Ba trong xanh và ấm áp. Ra đến sân bóng gần nhà,
tôi đã trút bỏ được vẻ mặt cau có và mở dây xích thả con Teco được tự do.
Tôi và Teco chơi bóng với nhau. Tôi ném quả bóng xốp mềm được làm từ những đụn tuyết
cuối mùa cho Teco. Nó bắt được và nuốt chửng. Chúng tôi đi bộ rất lâu dọc theo dòng sông
Souhegan đã đóng băng. Xung quanh cũng chẳng có gì thu hút được tôi. Cho tay vào chiếc túi
áo khoác cho đỡ lạnh, tôi lững thững vòng trở lại và ngồi nghỉ trên chiếc thềm gỗ cũ nát của
ngôi nhà. Tôi đưa mắt nhìn xuống mặt băng và thấy nó đã chuyển sang màu trắng đục như một
cốc sữa.
Tôi pha một tách trà quả mơ và nhấm nháp từng ngụm nhỏ. Teco nằm bên cạnh và đang nhai
món Milk Bone quen thuộc của nó. Mặt trời lên cao, ánh nắng chói chang xua tan cái lạnh,
không ...
LỜI GIỚI THIỆU
BUCKY THÂN YÊU
CHÀNG AH-NULD DŨNG MÃNH
CHINH PHỤC ĐỈNH CAO
BĂNG TAN
NÂNG NIU SỰ SỐNG
LIỀU THUỐC TINH THẦN
HỒ NƯỚC NHIỆM MÀU
HY VỌNG CỦA ĐỜI TÔI
SÓI ĐỒNG CỎ
MỘT NỖI ĐAM MÊ
HÀNH TRÌNH MƠ ƯỚC
TẤM CHĂN TINH KHIẾT
NHỮNG TÂM HỒN ĐỒNG ĐIỆU
DÒNG TỘC LINH CẨU
SỐNG KIỂU ALASKA
ĐIỂM CÂU CÁ LỊCH SỬ
VƯỜN CỦA CHA
MỘT KHỞI ĐẦU MỚI
BÌNH YÊN TRONG NỖI SỢ HÃI
BÍ QUYẾT CÂU CÁ
THANH ÂM QUEN THUỘC
ĐI HÁI THỤC QUỲ
NỮ KỴ SĨ TÀI BA
MỤC LỤC
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
LỜI GIỚI THIỆU
ia đình tôi quản lý một trang trại chăn nuôi bò sữa tại vùng đồng bằng Minnesota – nơi có
G
những đồng cỏ bạt ngàn và những hốc đá thiên tạo. Trong ký ức tôi, hình ảnh đồng ruộng
luôn gắn liền với những bãi đất ẩm được bao quanh bằng những dãy hàng rào gỗ. Mỗi khi có
dịp, tôi lại lang thang ngao du khắp nơi, từ những hang đá ẩm ướt cho đến dãy hàng rào khô
cong dưới nắng, và vào cả trong rừng sâu để khám phá những điều thú vị của thiên nhiên. Và
tất nhiên là chuyến thám hiểm nào cũng rất tuyệt.
Một ngày vào năm tôi 11 tuổi, trong lúc đang làm việc trong chuồng bò của trang trại thì tôi
nhìn thấy trên bầu trời xuất hiện một dải chim trắng bay từ phương bắc đến và đáp xuống
cánh đồng vừa gặt ngay đằng sau nhà kho. Hình ảnh đàn chim nổi bật trên nền trời bao la
không một gợn mây trở thành hình ảnh kỳ diệu nhất mà tôi từng thấy. Nhưng chỉ một lúc sau,
một tiếng động vang lên khiến đàn chim giật mình, bay vút lên không trung và cuối cùng mất
hút trên tầng trời cao. Tôi đứng ngẩn ngơ, tự hỏi chúng là loài chim gì, đến từ đâu, đang bay đi
đâu và tại sao lại dừng lại ở đây vào lúc này.
Việc tình cờ phát hiện bầy chim trong khoảnh khắc ấy đã kích thích trí tò mò của tôi và thôi
thúc tôi say mê khám phá thiên nhiên. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được rằng mảnh đất tôi đang
sống chỉ là một phần nhỏ bé trong cả thế giới rộng lớn. Hình ảnh những bầy chim xuất hiện
theo mùa cho tôi hiểu rằng vạn vật sinh sống trên trái đất này đều có mối liên kết chặt chẽ với
nhau như những đường chỉ trên một bức tranh thêu khổng lồ. Tôi cũng biết rằng nhận thức của
mình đã thay đổi và nó đã tạo nên mối liên kết vô hình giữa tôi với thiên nhiên cho đến tận bây
giờ. Với tôi, “thiên nhiên” không còn đơn giản là một danh từ chung mà nó đã trở thành một
sinh thể đặc biệt.
Hầu hết những người yêu thiên nhiên đều trải qua sự biến đổi trong cảm xúc như tôi. Tôi gọi
đó là “sự trải nghiệm” - khoảnh khắc ta khám phá ra những vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên. Mọi
người sẽ đồng ý với tôi rằng những trải nghiệm đó đều có một điểm chung: chúng không có
trong tivi, trong trò chơi điện tử hay thậm chí trong lớp học; chúng chỉ diễn ra ở thế giới rộng
lớn ngoài kia, nơi tồn tại của chim muông, cây cỏ.
Mỗi chúng ta đều là một phần của thế giới. Vì thế, bên trong mỗi người luôn tồn tại yếu tố
thôi thúc ta tìm về với tự nhiên. Là một nhà hoạt động môi trường, tôi luôn tin rằng bản thân
mỗi người sẽ hoàn thiện hơn nếu ta biết dành thời gian để hòa mình vào thế giới thiên nhiên.
Đối với nhiều người, nhu cầu tận hưởng thiên nhiên đã trở thành nguyên nhân thôi thúc họ
tìm hiểu và bảo vệ nó. Các thành viên trong hội bảo vệ môi trường thường nói với tôi rằng
chính những trải nghiệm dân dã đã tạo nên sợi dây kết nối họ với tự nhiên. Những trải nghiệm
đó có thể là lớn lên ở một vùng quê nào đó; tham gia những buổi cắm trại với gia đình, bạn bè;
đạp xe; câu cá... Đó là những trải nghiệm đầy cảm xúc, và chính nó đã đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong việc khuyến khích con người biết trân trọng và gìn giữ thế giới tự nhiên.
Chúng tôi - những nhà bảo vệ môi trường, thường có xu hướng nghĩ đến những công việc
mang tầm vĩ mô và quan tâm đến những hệ sinh thái rộng lớn như vùng Bắc Cực hay vùng
Everglades. Tuy nhiên, có một mục tiêu khác cũng lớn lao không kém mà chúng ta cần chú ý,
đó chính là bảo vệ môi trường ngay chính ngôi nhà, khoảng sân vườn hay vùng đất nơi ta đang
sống.
Dù chỉ là những việc làm hết sức bình thường như dựng chuồng trại, nuôi chim, trồng hoa, đi
dạo trong vườn hay trong công viên nhưng đó lại là những việc làm đơn giản nhất góp phần
bảo vệ hành tinh chúng ta. Có thể bạn tham gia vào những hoạt động này chỉ với mục đích tìm
kiếm niềm vui nhưng khi đó bạn đã thật sự hòa mình vào thiên nhiên. Ngoài ra, bạn cũng có
thể tham gia vào những hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên của địa phương hoặc bảo vệ
thiên nhiên ngay tại sân vườn nhà mình bằng việc loại trừ cỏ dại, trồng cây, sử dụng các thiết
bị tiết kiệm năng lượng...
Khi làm những việc này, bạn không chỉ hưởng thụ những món quà của tự nhiên ban tặng mà
còn góp phần bảo vệ thiên nhiên theo cách đơn giản và hiệu quả nhất. Mỗi việc làm, dù nhỏ bé
nhất, cũng sẽ góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường sống xung quanh chúng ta.
Hầu như mỗi người đều muốn đóng góp cho hoạt động bảo vệ môi trường nếu họ biết mình
nên bắt đầu từ đâu. Câu trả lời thực ra rất đơn giản. Bạn chỉ cần bước ra ngoài, trải lòng mình
với thiên nhiên, thả lỏng cơ thể, thư giãn và sau đó hãy tìm hiểu thêm về nó. Hoặc bạn cũng có
thể làm một số việc đơn giản khác như đọc những cuốn sách viết về thiên nhiên, chẳng hạn
như cuốn sách này, tìm hiểu trang web của các tổ chức bảo vệ môi trường. Khi đó, bạn sẽ tìm
thấy những thông tin bổ ích và cần thiết cho mình. Và sau cùng, hãy hành động!
Đây là hành tinh của chúng ta, và chúng ta phải có nhiệm vụ bảo vệ nó.
- John Flicker
Giám đốc National Audubon Society
BUCKY THÂN YÊU
“Tôi không chỉ sống cho riêng bản thân mình bởi tôi là một phần của thế giới này.”
- Lord Byron
ột con nai của anh chị đã bị xe cán. – Giọng người đàn ông vang lên ở đầu dây bên kia
khiến tôi choàng tỉnh. Hai con mắt còn ngái ngủ của tôi mở to hết cỡ. Tôi nhìn đồng hồ,
mới 2 giờ 7 phút sáng.
– Tai nạn xảy ra ở đâu? – Tôi hỏi trong khi đưa tay đánh thức John, chồng tôi, dậy.
– Chị mau chóng đến đây đi. – Người đàn ông nói. – Đoạn đường mới rải nhựa, ngay giao lộ
trước khi rẽ vào đường cao tốc, phía bên phải.
Điện thoại ngắt. Tôi chưa kịp nhận ra ai vừa báo hung tin cho mình.
– Anh ơi, dậy mau lên! – Tôi lay mạnh John.
– Ừ… Ừ… – John lẩm bẩm. – Có chuyện gì vậy em?
– Một người nào đó vừa gọi đến báo tin là một trong những con nai nhà mình bị xe hơi cán. –
Tôi bước xuống giường, lòng đau thắt.
– Ai gọi? Ở đâu?
– Người gọi điện không xưng tên nên em không biết đó là ai. Anh ta cúp máy đột ngột quá.
Lúc này John đã tỉnh ngủ hẳn và bật dậy.
– Nó còn sống không em?
– Em cũng không biết nữa. – Tôi đáp. – Giá như người ta thông báo cụ thể hơn.
Chúng tôi cấp tốc thay quần áo. John nhanh chóng gom những vật dụng cần thiết: vài tấm
chăn mỏng, hộp dụng cụ y tế, đèn pin và khẩu súng trường phòng khi phải dùng đến. Tôi đánh
thức đứa con trai lớn của mình và nói cho nó biết chúng tôi sẽ đi đâu.
– Con hy vọng đó không phải là con Yoda nhà mình. – Johnny thì thào, giọng nó bộc lộ sự lo
lắng dù vẫn còn ngái ngủ.
– Mẹ cũng mong là vậy.
Năm ngoái chúng tôi đã phóng thích năm chú nai con, trong đó có Yoda. Yoda là chú nai sống
trong trại chúng tôi lâu nhất nên tình cảm chúng tôi dành cho nó cũng sâu đậm nhất. Nó là thủ
lĩnh của bầy thú mồ côi được chúng tôi nhận về nuôi trong trại. Tất nhiên là tôi không muốn
bất kỳ con nai nào của mình gặp tai nạn, Yoda lại càng không.
John và tôi ra khỏi nhà chỉ vài phút sau khi nhận được điện thoại. Đoạn đường đến hiện
M
trường tai nạn không xa lắm nhưng nó đủ để tôi nghĩ đến một chú nai khác của mình cũng bị
xe hơi cán nhiều năm trước.
Bucky là con nai đầu tiên được trại chúng tôi nhận nuôi. Chính vì thế, chúng tôi khá lúng túng
trong việc tiếp cận nó và cũng chẳng biết nên chuẩn bị những gì cho việc nuôi nấng nó về sau.
Chúng tôi dựng cho Bucky một cái chuồng và quây hàng rào quanh chỗ nó ở. Ngay khi nhìn
thấy Bucky, cả gia đình tôi đều có cảm tình với chú nai con có bộ lông nhung mềm mại điểm
những chấm lốm đốm vô cùng đáng yêu đó. Bucky đã lớn lên trong tình thương yêu và sự chăm
sóc chu đáo của cả gia đình tôi.
– Con nai của nhà chúng tôi đấy. – John thường tự hào khoe với mọi người.
– Là chú nai của con nữa. – Jesse, cậu con trai nhỏ của tôi cũng muốn khẳng định phần công
lao của mình.
Tuy mới nhận nuôi nai lần đầu nhưng chúng tôi biết rằng những chú nai con sẽ phát triển tốt
hơn khi được sống chung với bầy đàn. Vì thế, chúng tôi cố gắng tìm thêm những chú nai mồ côi
khác để Bucky có thêm bạn và sẽ thả tất cả cùng lúc khi chúng đã trưởng thành. Chúng tôi gọi
điện đến những trại bảo tồn động vật hoang dã và họ đã hứa sẽ gọi cho chúng tôi nếu tìm thấy
những chú nai con mồ côi. Thế nhưng chẳng có bất kỳ cuộc gọi nào sau đó. Về phía mình,
chúng tôi cũng không chắc liệu mình có đủ hào phóng để đem Bucky cho một trại nào đó nuôi
hay không. Cả nhà tôi đều nghĩ Bucky thuộc quyền sở hữu của mình rồi.
Một lần, chú nai Spike hơn một năm tuổi được nhốt chung chuồng với Bucky trong khoảng
một giờ đồng hồ. Spike đã được những nhà chức trách thuộc ban bảo vệ động vật tìm thấy
trong một kho thóc của người nào đó đang cố gắng tìm cách thuần hóa nó. Spike là một chú nai
thích sống độc lập, khá bướng bỉnh và đã đủ tuổi để tự chọn cách sống riêng của mình. Cậu ta
không muốn sinh hoạt chung với Bucky. Nhờ vậy Bucky không có cảm giác hụt hẫng khi người
bạn không mấy lịch lãm của mình nhảy vọt qua hàng rào cao gần 2 mét để kết bạn với tự do.
Sang tháng Chín, Bucky được thả về rừng nhưng cậu vẫn chọn ở lại trại của chúng tôi. Mỗi
ngày, nó chạy theo Johnny ra trạm xe buýt.
– Trời ơi, nhìn kìa. – Những đứa bạn của Johnny tỏ ra hết sức thích thú ngắm nhìn Bucky
đang lững thững đi cạnh Johnny. Chúng thường thốt lên: “Chà, tuyệt thật!” hay “Nhìn kìa! Nó
đẹp quá!”.
Cuối mùa đông, Bucky thường tha thẩn khám phá khắp nơi quanh vùng. Có lẽ cảm thấy mình
không thể hòa hợp với cuộc sống hoang dã cùng bầy đàn nên vào mỗi buổi chiều tối, Bucky
đều quay trở về trại để nằm ngủ cạnh dãy hàng rào sắt bao quanh cũi chó của gia đình tôi. Max,
con chó lớn thuộc giống Labrador, cũng thường rời khỏi cái chuồng ấm cúng của mình để đến
nằm cạnh Bucky, dù giữa chúng luôn có một dãy hàng rào. Max muốn truyền hơi ấm sang cho
Bucky và cả hai sẽ sưởi ấm cho nhau.
Vào một buổi chiều lộng gió, tôi báo với John là Bucky vẫn chưa về nhà.
– Lin này, bây giờ Bucky đã là một chú nai trưởng thành rồi. – John đáp. – Một ngày nào đó
chàng trai của chúng ta sẽ không về nhà nữa. Nó sẽ ở lại trong rừng và làm những gì nó thích.
– Em hiểu, nhưng em lo lắng lắm. – Tôi đáp. – Em linh cảm có điều chẳng lành đã xảy ra.
– Hãy chờ đến sáng mai, Lin ạ. Bucky sẽ quay về để chén những quả táo như mọi khi thôi. –
John trấn an tôi.
Nhưng sáng hôm sau Bucky vẫn không về, và cả hôm sau nữa cũng vậy. Chúng tôi đến những
nơi Bucky thường đến nhất để tìm nó. Hai vợ chồng tôi giải thích với bọn trẻ rằng có lẽ Bucky
đang đi cùng với một chú nai khác để bọn trẻ không thắc mắc về việc vắng mặt của Bucky. Đây
là lý do duy nhất mà bọn trẻ có thể hiểu và chấp nhận được.
– Nó sẽ không quay lại nữa. – Tôi nói với John bằng giọng bình thản, chấp nhận thực tế rằng
mình đã hoàn thành công việc nuôi dưỡng và phóng thích động vật hoang dã. Thế nhưng, việc
để Bucky quay lại cuộc sống tự do như những con vật khác thật sự là điều rất khó khăn với
chúng tôi. Khi ra đi, Bucky đã mang theo một phần của trái tim tôi. Và tôi vẫn phải tiếp tục giải
thích cho các con trai tôi về sự vắng mặt của nó.
Đến mùa săn bắn, John và tôi treo những tấm bảng to có hàng chữ màu vàng cam nổi bật từ
xa: “Cấm săn bắn!”. Đây là công việc chúng tôi vẫn làm hằng năm. Nhưng năm nay, chúng tôi
xin phép những người hàng xóm để được treo bảng cấm này trong vùng đất của họ với hy vọng
sẽ bảo vệ được Bucky nếu nó vẫn còn quanh quẩn trong vùng này.
Thế rồi một ngày, tại góc đường giáp với chỗ rẽ vào khu rừng, John và tôi nhìn thấy xác một
con thú con. Thân nó bị những bụi cây cao che khuất và nó nằm quay mặt về hướng nhà chúng
tôi. Nó đã bị xe hơi cán và ai đó đã mang nó khỏi đường cao tốc và đặt ở đây.
Là Bucky.
– Không phải như vậy chứ! – Tôi gào lên, khóc tức tưởi khi quỳ xuống bên cạnh xác con vật.
“Tại sao lại như vậy? Trời ơi! Tôi biết nói thế nào với các con tôi đây?”
Tôi không kìm được nước mắt trước sự thật đau đớn này và cảm thấy căm giận kẻ lái xe bất
cẩn nào đó đã hại chết Bucky của chúng tôi.
– Em sẽ không bao giờ nuôi một con nai nào nữa. – Tôi nghẹn ngào nói với John. – Làm sao
em có thể chịu đựng được nếu chuyện này lại xảy ra lần nữa. Ôi trời ơi! Nhìn những vết thương
của nó này.
John nhẹ nhàng lấy đất và lá cây khô xung quanh phủ lên xác của Bucky. Chúng tôi đứng lặng
một hồi lâu trước sự thật phũ phàng này và cầu mong sẽ không phải chịu thêm bất kỳ nỗi đau
nào như thế nữa.
Cơn gió lạnh thốc vào người kéo tôi trở về với thực tại khi hai vợ chồng nhảy xuống khỏi xe
tải. Tôi chạy vội đến chỗ chú nai con đang nằm bất động, lấy đèn pin soi vào thân thể nó.
– Tạ ơn trời. Đó không phải là Yoda.
Những tia nắng đầu tiên của ngày mới mang đến câu trả lời rõ ràng cho chúng tôi. John và tôi
mang xác con vật mà chúng tôi không biết tên vào sâu trong rừng, đặt nó vào một chỗ trũng
rồi khỏa đất lấp lại.
Khi cho xe rẽ vào đường về nhà, chúng tôi nhìn thấy Jesse đang xòe tay đưa cho chú nai yêu
quý của mình – Yoda – một quả táo. Ánh mắt Yoda nhìn Jesse đầy tin cậy và nhẹ nhàng đớp lấy
trái táo từ tay Jesse. Nó dụi dụi mặt vào đôi bàn tay mang găng ấm áp của Jesse. John và tôi
nhìn nhau mỉm cười. Chú nai xấu số nọ đã thổi bùng ngọn lửa tình yêu thương dành cho những
sinh vật của thế giới hoang dã trong chúng tôi và tiếp sức cho chúng tôi thực hiện tốt công việc
của mình.
Chúng tôi thể hiện lòng tiếc thương dành cho Bucky bằng cách tiếp tục chăm sóc và nuôi
dưỡng thêm nhiều chú nai mới mỗi khi xuân về. Tuy nhiên, dù rất nhiều chú nai đã lớn lên
trong trang trại của chúng tôi nhưng tôi vẫn không bao giờ quên những kỷ niệm gắn liền với
chú nai đầu tiên.
- Linda Mihatov
CHÀNG AH-NULD DŨNG MÃNH
ôi giữ chức vụ trưởng đoàn dịch vụ du lịch sinh thái tại Costa Rica đã mười năm nay.
T
Những chuyến đi này mang đến cho tôi cơ hội được nhìn thấy và tiếp xúc với nhiều loại thú
hoang dã như khỉ đột, báo đốm... Tuy vậy, có một chuyến đi khiến tôi nhớ mãi vì lần đó, cả
đoàn của tôi đã có dịp chứng kiến một sự kiện đặc biệt ấn tượng.
Các thành viên tham dự chuyến đi lần ấy đều là những người rất đam mê tìm hiểu thiên
nhiên hoang dã, trong đó có Jim và con trai ông, Andy - đang ở tuổi thiếu niên. Hai cha con Jim
không phải là khách hàng thường xuyên của hãng du lịch chúng tôi. Jim khoảng 50 tuổi và là
một cựu quân nhân. Có lẽ vì nhiều năm hoạt động trong quân đội nên tính tình của ông khá
lạnh lùng. Tôi nhận thấy mối quan hệ giữa ông và Andy không được hòa thuận cho lắm. Andy
tỏ ra rất nhiệt tình và hăng hái tham gia mọi hoạt động của đoàn trong khi cha cậu, với những
nguyên tắc cứng nhắc, luôn tìm cách kiểm soát gắt gao con trai. Một lần, tôi thấy Jim xử sự khá
thô bạo với Andy. Ông túm mạnh và lôi Andy đi khi cậu bé bị tụt lại phía sau vì mải tìm cách
bắt một con ếch có bộ da lấm chấm xanh và đỏ xen kẽ. Đó là một loài ếch độc. Có lẽ ông ấy
muốn bảo vệ cậu con trai mình theo cách của riêng ông. Dù trong đoàn không ai nói lời nào
nhưng sau đó, mọi người đều có vẻ giữ khoảng cách với Andy như sợ mình sẽ mang đến cho
cậu bé nhiều phiền toái.
Tôi thường trò chuyện với Andy trong những phút rảnh rỗi, với hy vọng cậu bé bớt cô đơn
hơn. Andy tâm sự với tôi rằng cậu rất mong được nhìn thấy một con báo đốm. Một tối nọ, sau
khi mọi người đã ngủ say, chúng tôi trốn ra khỏi trại để tìm những chú ếch đủ màu sắc và
nhiều sinh vật hoạt động về đêm khác. Khi đến địa phận khá vắng vẻ của vườn quốc gia
Corcovado, chúng tôi phát hiện ra một đàn khỉ gồm 20 con khỉ mặt trắng Capuchin. Cả hai hiếu
kỳ dừng lại quan sát chúng. Capuchin là loài khỉ khá hiền lành, dễ gần nhưng rất thông minh và
hành động giống con người. Tôi để ý thấy có một con khỉ đực đầu đàn luôn tỏ ra hung hãn khác
thường.
Trưa hôm sau, khi đang đi tham quan rừng quốc gia Corcovado thì đoàn chúng tôi được
chứng kiến một vài cuộc tranh chấp giữa con khi đầu đàn đó với một vài con khỉ đực khác
trong đàn. Bất kỳ con khỉ đực nào bén mảng đến gần các con khỉ cái thì nó lao vào, nhe răng đe
dọa và thỉnh thoảng còn dành tặng những kẻ gây rối kia một cú đấm trời giáng. Đoàn chúng tôi
đặt biệt danh cho chú khỉ này là Chàng Ah-nuld dũng mãnh - nhại theo vai diễn của nam diễn
viên gạo cội Arnold Schwarzenegger.
Đoàn chúng tôi theo dõi hoạt động của đàn khỉ này nhưng vẫn cố gắng giữ một khoảng cách
an toàn với chúng. Chúng đi khắp rừng để tìm kiếm thức ăn và đi cuối đàn là một con khỉ con
cao chưa đến 25 cm. Trước đó, con khỉ mẹ đã dạy cho nó cách leo cây và cách bám theo đàn để
không bị lạc. Khỉ mẹ còn huấn luyện cho con cách nhảy phốc từ mặt đất lên thân cây rồi đu
sang một nhánh cây khác ở xa hơn. Đây là bài học khó nhất mà chú khỉ con phải học. Nhiều lần,
tôi thấy chú khỉ con dừng lại, rên rỉ chừng không muốn học tiếp. Thế nhưng, chỉ một lúc sau, nó
đã tìm một cái cây khác để tập cho đến khi nhảy vọt lên được thân cây.
Trong chuyến đi tìm mồi hôm đó, chú khỉ con thấm mệt và bắt đầu tụt lại phía sau. Càng cách
xa khỉ mẹ, chú càng rên rỉ, than khóc to hơn. Khỉ mẹ dừng lại đợi chú đi lên chứ nhất quyết
không quay lại đón chú. Thế rồi, khi đến một thân cây quá to, chú khỉ con không thể ôm xuể
nên đã kêu khóc hết sức thảm thiết. Tiếng kêu gào của chú đã gây náo loạn cả đàn và khiến con
khỉ đực đầu đàn - chàng Ah-nuld dũng mãnh - chú ý đến. Nó nhe răng ra hăm dọa và rít lên giận
dữ rồi lao đến chỗ khỉ mẹ đang cõng khỉ con với ánh mắt hằn học. Trong khi đó, khỉ mẹ vì
muốn bảo vệ con nên cũng gầm gừ chuẩn bị tư thế sẵn sàng chiến đấu. Tất cả chúng tôi đều nín
thở chờ đợi, lo lắng không biết chàng Ahnuld này định làm gì.
Khi Ah-nuld đến cạnh chỗ khỉ mẹ và khỉ con, gương mặt đang cau có của nó bỗng nhiên giãn
ra và vẻ hung hăng biến mất. Nó nhìn thẳng vào gương mặt của khỉ con như thể đây là lần đầu
tiên nó nhìn thấy con mình. Thế rồi chàng Ah-nuld đưa tay sờ gương mặt đang khiếp đảm của
khỉ con và nhẹ nhàng đặt lên đó một nụ hôn. Chú khỉ con nín khóc ngay lập tức. Ah-nuld bế con
vào lòng, để đầu con tựa vào ngực mình và dùng răng khẽ chải bộ lông cho con.
Cả đoàn chúng tôi thở phào nhẹ nhõm và thật sự xúc động trước những gì vừa chứng kiến.
Lúc đó, tôi để ý thấy Jim - chàng Ah-nuld của đoàn chúng tôi - đang lặng lẽ khóc. Tôi im lặng
nhìn Jim vì không biết nên nói với ông điều gì.
Cả đoàn chúng tôi vui vẻ quay trở lại trại nghỉ. Sau bữa tối, tôi, Jim và một vài người khác
ngồi dưới mái hiên lắng nghe tiếng mưa đêm. Giai điệu của mưa lúc êm đềm, lúc réo rắt tựa
như một bản hòa tấu tuyệt diệu của tự nhiên.
Bầu không khí yên bình bỗng bị phá vỡ khi Andy bước ra khỏi mái hiên, Jim chộp mạnh lấy
cánh tay con trai. Andy cự lại bố. Tôi thót tim lo sợ cuộc xung đột giữa hai cha con sẽ diễn ra.
Những ánh mắt khác cũng đổ dồn về phía Jim và Andy.
Thế nhưng, trái với mọi dự đoán, Jim kéo Andy vào lòng và nói:
- Bố rất vui vì hai bố con ta cùng nhau tham gia chuyến đi này. Lúc nào bố cũng mong con
được trải nghiệm điều thú vị và bổ ích của cuộc sống, Andy ạ! Có lẽ là bố đã không thương yêu
con theo cách mà con mong đợi nhưng con hãy tin rằng bố luôn yêu con.
Andy ngạc nhiên đến mức cứ đứng yên trong vòng tay bố. Một thoáng bối rối, cậu ôm chặt
lấy bố và nói:
- Bố! Con cũng rất yêu bố.
- Josh Cohen
CHINH PHỤC ĐỈNH CAO
“Bất cứ ai chinh phục được đỉnh núi sẽ nhận được những món quà vô giá do sơn thần ban
tặng.”
- Sir Francis Younghusband
ăm 1989, tôi lên kế hoạch thực hiện một chuyến thám hiểm châu Phi và chinh phục đỉnh
Kilimanjaro(1) - đỉnh núi cao nhất của châu lục này. Nguyên nhân khiến tôi háo hức đến
với mái nhà của lục địa đen là vì tôi thực sự bị nền văn hóa độc đáo của xứ sở này cuốn hút – từ
cuộc sống con người cho đến thế giới động vật hoang dã.
Ý tưởng về chuyến thám hiểm châu Phi của tôi được nhen nhóm từ chuyến du lịch đến Nepal.
Trong suốt sáu tuần lưu lại đất nước này, bàn chân tôi đã in dấu trên những con đường mòn
hiếm người qua lại dẫn đến nơi sinh sống của các bộ lạc ít người dưới chân ngọn
Kangchenjunga(2) – đỉnh núi cao thứ ba trên thế giới. Tôi say mê vẻ đẹp hùng vĩ cùng những
vách đá cheo leo hiểm trở nơi đây. Tôi yêu cả những bản làng hẻo lánh, nơi mà mỗi khi đi
ngang qua, bạn sẽ được trẻ con trong làng chào đón bằng những bài hát tiếng địa phương. Bạn
cũng có thể bắt gặp nụ cười thân thiện tỏa sáng trên những gương mặt nhem nhuốc. Những
phong tục tập quán ở đây thu hút được sự chú ý của tôi bởi chúng rất khác biệt với nền văn
hóa Tây phương hiện đại mà tôi được tiếp xúc từ bé. Trước khi rời Nepal, tôi cảm thấy muốn
được khám phá thêm nhiều vùng đất khác, đến thăm nhiều thôn làng, được nghe nhiều ngôn
ngữ, và muốn được thấy những nụ cười hiền hậu của những nền văn hóa khác nhau. Tôi bỗng
nhận ra rằng việc khám phá những ngọn núi cao đã trở thành một trong những mục tiêu của
cuộc đời tôi.
Có thể nhiều người cho rằng tôi quá tham vọng nhưng tôi vẫn quyết tâm chinh phục sáu trên
bảy đỉnh núi cao nhất thế giới. Nhưng chính quyết tâm này sẽ giúp tôi có cơ hội được tận mắt
chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những vùng đất thuộc châu Phi, Alaska, New Zealand, Argentina và
Antarctica.
Chinh phục Kilimanjaro là cuộc hành trình nhiều gian truân chứ không đơn giản chỉ là một
chuyến leo núi ngắm cảnh đơn thuần. Ngọn núi này là sự lựa chọn đầu tiên trong danh sách
những địa danh tôi muốn đặt chân đến. Khi bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi, tôi nhớ đến bà của
mình – người có nhiều ảnh hưởng đến cuộc đời tôi. Bà cũng là một người rất thích đi du lịch
nhưng lại không có điều kiện để làm điều đó. Bà qua đời trong khi danh sách ước muốn của bà
vẫn chưa được thực hiện bao nhiêu. Tôi sẽ nỗ lực hết mình để không bước theo lối mòn ấy của
bà.
Thế nhưng, vào lúc tôi đang tràn trề hy vọng nhất thì một chuyện không may đã xảy đến. Hai
tuần trước kỳ nghỉ Giáng sinh năm 1989, các bác sĩ chẩn đoán tôi đã bị ung thư tuyến vú và
khối u đã lan sang cả hệ bạch cầu. Họ nói với tôi rằng tôi chỉ có thể sống trong vòng từ ba đến
năm năm nữa. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ, tôi từ một người đang rất yêu đời, bỗng biến thành
N
kẻ sống trong sợ hãi và thất vọng tột độ.
Sau khi trải qua nhiều cuộc xét nghiệm, tôi quyết định sẽ để các bác sĩ tiến hành điều trị lâm
sàng - phương pháp có thể giúp tôi kéo dài cuộc sống của mình thêm một thời gian nữa. Ba
tháng đầu tiên tôi chỉ đến bệnh viện theo định kỳ để truyền hóa chất. Bảy tuần tiếp theo tôi
được điều trị bằng tia phóng xạ. Hai tháng sau đó, tôi nhập viện để tập trung điều trị bằng hóa
chất và phẫu thuật cấy ghép tủy.
Vào tháng 3 năm 1990, tôi được chuyển đến bệnh viện Pacific Presbyterian. Suốt bảy tuần lễ,
tôi nằm trong một căn phòng vô trùng có diện tích rất nhỏ. Thức ăn được đưa vào cơ thể tôi
thông qua những ống dẫn, và bài tập vận động duy nhất của tôi là bước đến chiếc chậu cạnh
giường khi buồn nôn. Sức khỏe của tôi mỗi lúc một yếu dần. Nằm trên giường bệnh, tôi chỉ có
thể đưa mắt nhìn ra khu công viên bên ngoài thông qua ô cửa sổ nhỏ. Ước muốn duy nhất của
tôi khi ấy là được đi dạo trên những con đường mòn trong công viên đó mà thôi.
Tôi uống một viên thuốc an thần rồi thiếp đi. Trong khi mê man, tôi thấy mình đang đứng
trên đỉnh Kilimanjaro, McKinley và một số đỉnh núi khác mà tôi không biết tên. Nhưng cũng
trong giấc mơ đó, các cơ bắp tôi co rút lại, cơ thể không còn sức đề kháng của tôi nóng ran lên
vì sốt cao. Tôi có cảm giác như cánh cửa của thần chết đang mở rộng chào đón tôi. Tuy nhiên,
tôi vẫn không ngừng cầu nguyện và hy vọng một ngày nào đó mình sẽ được xuất viện và sống
một cuộc đời hữu ích.
Cuối cùng, điều kỳ diệu đã xảy ra. Tôi hết sốt và có thể tự do đi lại. Việc đầu tiên tôi muốn
làm là đi dạo khắp công viên. Việc đi qua bốn dãy nhà ngắn trong bệnh viện dường như đã rút
cạn chút sức cuối cùng trong người tôi. Thế nhưng tôi lại cảm thấy rất hãnh diện vì đến bây giờ
mình vẫn còn sống. Mỗi ngày qua đi, quãng đường tôi đi được lại dài hơn một chút. Sức khỏe
của tôi dần hồi phục nhưng tất nhiên, tôi vẫn phải chịu đựng sự hành hạ của những cơn đau.
Ngay khi cảm thấy khá hơn, tôi lại nghĩ đến ước mơ chưa được hoàn thành của mình - chuyến
du lịch châu Phi và chinh phục đỉnh Kilimanjaro.
Sau khi điều trị được một năm, tôi leo lên đỉnh Baldy – một ngọn núi tuyết nơi tôi đang sống.
Sau bốn giờ kiềm chế cơn đau, cuối cùng tôi cũng đặt chân lên đến đỉnh núi. Trong khoảnh
khắc đặc biệt đó, tôi quyết tâm sẽ phải đến châu Phi bằng mọi giá.
Một lần nữa, tôi lại lập kế hoạch cho hành trình dài của mình. Sau đó, tôi có thêm vài lần trở
lại đỉnh Baldy và tiêm chủng một danh sách các bệnh cần phòng tránh trước chuyến đi khám
phá châu Phi. Tôi bay đến Nairobi trong tâm trạng vừa hồi hộp, vừa lo lắng. Thật khó tin rằng
cuộc phiêu lưu mà tôi mong đợi bấy lâu nay sắp trở thành hiện thực.
Tôi khởi hành từ Serengeti Plains, mảnh đất khô cằn với rất nhiều sư tử, báo Phi châu và
những đàn voi rừng. Tâm trạng tôi trở nên phấn khích đặc biệt trước khung cảnh hoang sơ ở
đây. Trong ba ngày, đoàn của tôi gồm chín người, bắt đầu chuyến thám hiểm hứa hẹn biết bao
điều kỳ thú.
Đêm trước khi rời khỏi Tanzania để chuẩn bị chinh phục đỉnh Kilimanjaro, chúng tôi được
tham dự vũ hội của thổ dân Masai. Đêm đó, chúng tôi quây quần bên nhau và lắng nghe các
chiến binh của bộ lạc hát những lời tụng ca. Tốc độ và cường độ của những bước chân quanh
tôi mỗi lúc một tăng. Tôi hầu như không còn nhìn thấy rõ hình dáng người mà chỉ còn nghe
thấy âm thanh bài hát của họ. Những bước nhảy và giai điệu bài hát hòa hợp với nhau tạo nên
một sức quyến rũ đầy mê hoặc không sao lý giải được.
Tôi chăm chú quan sát cách họ thể hiện quyết tâm và tập trung sức lực vào từng động tác.
Tôi hiểu rằng bản thân tôi cũng phải làm như vậy nếu muốn chiến thắng bệnh tật và chinh
phục đỉnh Kilimanjaro. Cũng giống như các thổ dân Masai ở đây, tôi sẽ phải huy động tất cả nội
lực của mình để chống chọi với không khí lạnh và áp suất không khí thấp khi ở trên cao.
Sáng hôm sau, chúng tôi bắt đầu leo núi. Con đường đến với “đỉnh vinh quang” luôn chứa
đựng rất nhiều gian khổ. Trong bốn ngày đầu, chúng tôi đi theo những con đường quanh co
trong các cánh rừng nhiệt đới đầy rêu xanh và hoa dại. Thực phẩm lạ khiến cho hệ thống miễn
dịch vừa mới phục hồi phần nào của tôi gặp trục trặc và tôi bị tiêu chảy trong suốt hành trình.
Tuy vậy, theo mỗi bước chân, khoảng cách giữa chúng tôi với đỉnh núi càng được thu ngắn lại.
Mỗi khi đuối sức, tôi thường lẩm nhẩm câu: “Hakuna Matata, Hakuna Matata” mà theo tiếng
Swahili có nghĩa là: “Không sao đâu, đừng sờn lòng!”. Vào ngày thứ năm của cuộc hành trình,
chúng tôi bắt đầu tiến lên đỉnh. Vào khoảng thời gian này của hai năm trước, tôi đang nằm trên
giường bệnh, thoi thóp thở và hy vọng sống sót là rất mong manh. Vậy mà giờ đây, tôi đã khỏe
mạnh trở lại và còn thực hiện được ước mơ tưởng như đã dang dở của mình.
Khi đặt chân đến vành đai của miệng núi lửa ở độ cao 5.791 mét, tôi sung sướng đến mức
không giữ được bình tĩnh. Tôi nhảy cẫng lên, vung mạnh nắm đấm vào không khí, giống phong
cách trình diễn của các ca sĩ nhạc Rock mỗi khi kết thúc bài hát để chúc mừng thành công của
mình.
Đứng trên nóc nhà của châu Phi và được hít thở bầu không khí trong lành nơi đây, lần đầu
tiên tôi hiểu rằng những vết thương trên thân thể có thể được chữa lành nếu tinh thần con
người luôn khỏe mạnh. Trên đỉnh núi này, trong giây phút ấy, tôi cảm thấy mình là người may
mắn nhất thế giới. Tôi muốn chia sẻ với tất cả mọi người niềm hân hoan vô bờ của mình.
Sau hai năm rưỡi làm việc cật lực, tôi cùng với 17 bệnh nhân sống sót sau khi điều trị ung
thư vú leo lên đỉnh Aconcagua có độ cao 6.962 mét tại Argentina. Chúng tôi đặt tên cho chuyến
đi của mình là “Chinh phục đỉnh cao”. Hành trình của chúng tôi nhận được rất nhiều sự quan
tâm của giới truyền thông và mục đích của chúng tôi trong chuyến đi này là kêu gọi sự quan
tâm của cộng đồng với những bệnh nhân ung thư vú. Tôi là một trong ba người đầu tiên chinh
phục được đỉnh Aconcagua. Tuy nhiên, một người bạn đồng hành của tôi - chị Nancy Knoble đã nhận xét rằng: “Chúng ta chinh phục đỉnh cao này trước hết là để chiến thắng chính mình”.
Sau lần đó, tôi dành thời gian để đi du lịch vòng quanh thế giới và rất hãnh diện vì mình đã
đứng trên năm đỉnh núi cao nhất của năm châu lục. Chỉ cần điều kiện sức khỏe cho phép, tôi sẽ
tiếp tục thực hiện ước mơ chinh phục đỉnh cao của mình. Càng ngày bảng danh sách ước mơ
của tôi càng được thu ngắn lại. Tôi đánh dấu những điều mình đã đạt được và chắc chắn sẽ nỗ
lực hết mình để hoàn thành tất cả chúng.
- Laura Evans
BĂNG TAN
“Sự bất ổn của dòng nước không nằm ở bản thân nó mà do tâm trạng của con người.”
- Tanaka Shozo
ôi thức giấc khi trời vừa tảng sáng và bắt đầu liệt kê những việc cần làm để sửa sang lại
ngôi nhà tồi tàn mà mình vừa dọn đến. Nỗi chán chường trào dâng trong lòng khiến tôi
chẳng thèm quan tâm đến điều gì, ngay cả việc con chó Teco làm rơi sợi dây xích lên chân
mình. Tôi đã đánh mất quá nhiều thứ: ngôi nhà cũ thân yêu và cuộc hôn nhân của mình.
Tôi mở cửa sổ ra chào đón một ngày tháng Ba trong xanh và ấm áp. Ra đến sân bóng gần nhà,
tôi đã trút bỏ được vẻ mặt cau có và mở dây xích thả con Teco được tự do.
Tôi và Teco chơi bóng với nhau. Tôi ném quả bóng xốp mềm được làm từ những đụn tuyết
cuối mùa cho Teco. Nó bắt được và nuốt chửng. Chúng tôi đi bộ rất lâu dọc theo dòng sông
Souhegan đã đóng băng. Xung quanh cũng chẳng có gì thu hút được tôi. Cho tay vào chiếc túi
áo khoác cho đỡ lạnh, tôi lững thững vòng trở lại và ngồi nghỉ trên chiếc thềm gỗ cũ nát của
ngôi nhà. Tôi đưa mắt nhìn xuống mặt băng và thấy nó đã chuyển sang màu trắng đục như một
cốc sữa.
Tôi pha một tách trà quả mơ và nhấm nháp từng ngụm nhỏ. Teco nằm bên cạnh và đang nhai
món Milk Bone quen thuộc của nó. Mặt trời lên cao, ánh nắng chói chang xua tan cái lạnh,
không ...
 





